GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Ban Thông tin Truyền thông
Tìm theo tin bài Tìm theo tác giả
Cập nhật lúc 19:37 13/04/2017 (GMT+7)

Giá trị của Khoa học & Quan trọng của Phật giáo (P.1)

(PGVN)

Hai năm về trước, ngẫu nhiên đọc được bài diễn văn ‘Giá trị của Khoa học’ (The Value of Science) bởi Dr. Richard Feynman, mùa thu, 1955, (in Volume XIX, ENGINEERING AND SCIENCE, December 1955) rất nổi danh ở trên internet nhưng lúc đó tôi chưa đủ trình độ để hiểu nổi cái trí tuệ thậm thâm viên diệu của ông ta dù lúc đó tôi cảm thấy rất hấp dẫn.

Bây giờ, tình cờ đọc lại những dòng tâm linh dưới đây đột nhiên tâm tư tôi cứ tưởng như những lượng tử chúng sinh say cuồng luân vũ trong tôi. Tôi không biết là ông ta đã cố tình diển tả dùm tâm lòng của tôi hay tôi đang “vô tình thuyết pháp” cho cái mà tôi đang tri kỷ nhưng không tìm ra kẻ tri bỉ, và đồng tâm để khả lậu? 

Tưởng là nên ‘sống giữ, tịch mang theo’ nhưng tôi luôn luôn áy náy và ngỡ rằng: ‘Nỗi lòng này biết tỏ cùng ai? Tâm tư này mang tới Niết bàn chưa tan’. Vậy mà tôi đã lầm to vì theo Dr. Feynman, có cả khối ‘âm thầm chúng nhân sinh’ cùng đồng tâm cảm, đồng hội đồng thuyền, đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu với cái đại ngu và đại điên của tôi.  Tôi vui mừng quá, tưởng như được giải thoát.  

Tôi vẫn cứ tưởng là cái ‘Tôi’ ngu dốt này chưa bao giờ được đứng trên hạng chót trong hàng vô minh. Tôi lại cũng không ngờ, thiên thượng thiên hạ duy ngã này chưa phải là độc tôn.. .vô minh. Bất ngờ nhất là những tâm sự dưới đây chả có gì si cuồng để không thể bật mí vì những điều tầm thường này đại đa số chúng sinh ít ra đã có một vài lần kinh nghiệm và có thể đã từng trải qua?

Trước tiên, tôi sẽ cố phỏng dịch dòng tâm thức đầy trí tuệ dưới đây của Giáo sư Feynman, một khoa học gia Hoa Kỳ nổi danh, và kế đó tôi sẽ “cố tình mạo muội vô minh thuyết pháp” cái tư tưởng đồng âm điệu này qua lăng kính của cái ngã đáng... thương nhất của tôi.
 
Is science of any value?
 
I think a power to do something is of value. Whether the result is a good thing or a bad thing depends on how it is used, but the power is a value.
 
“I learned a way of expressing this common human problem on a trip to Honolulu.  In a Buddhist temple there, the man in charge explained a little bit about the Buddhist religion for tourists, and then ended his talk by telling them he had something to say to them that they would never forget – and I have never forgotten it. It was a proverb of the Buddhist religion:

‘To every man is given the key to the gates of heaven; the same key opens the gates of hell.’ Dr. Richard Phillips Feynman

So is science!  

Tạm dịch và ‘chủ quan’ bình luận:
 
Giá trị của Khoa học?
  
Tôi nghĩ nếu khoa học có khả năng ứng dụng thì nó có giá trị. Bất cứ hậu quả của nó là xấu hay tốt, tùy vào khả năng sử dụng, nhưng khả năng thực dụng có giá trị quan trọng.

Có lần ở Hạ Uy Di (Hawaii,) tôi được đi tới một ngôi chùa Phật giáo. Trong chùa, một ông hướng dẫn viên bảo chúng tôi: “Tôi sẽ nói cho các ông bà một điều mà các ông bà sẽ không bao giờ quên. Rồi thì ông ta nói: “Bất cứ người nào được ban cho cái chìa khóa của những cửa thiên đường. Cùng chìa khóa đó mở được những địa ngục quan”.

Theo tôi hiểu thì Feynman quan niệm cái chìa khóa chính (master key) đó quan trọng kiến thức vì nó có giá trị thực dụng mở được tất cả các cửa của thiên đàng lẫn địa ngục. 

Cái chìa khóa mở cửa nhị nguyên; thiên đàng & địa ngục quan đó tôi gọi là 1 ngón tay chỉ mặt trăng lẫn mặt trời, ngày lẫn đêm. Nhất chỉ cùng điểm âm và dương, vô sắc lẫn hữu sắc. Chìa khóa chính mở cả cửa vô minh lẫn anh minh, sáng và tối? Một con đường đưa tới hai ngả phân vân đầy mâu thuẩn?

Đa số chúng ta vô minh lầm tưởng nhất chỉ đạo là chân lý Nhất Như cho nên sở trụ vào nó thay vì anh minh để nhận thức nó chỉ là phương tiện tương đối, phương châm tạm bợ của cứu cánh tuyệt đối.

Có thể chỉ có độc nhất Feynman là cả tin và không thể quên được chứ còn lại các ông, các bà, các con, các cháu trong nhóm đi viếng thăm chùa chả hiểu cái quái gì là ‘thiên đường và địa ngục’ của cái ông hướng dẫn viên thầy đời, hiểu nhầm Phật pháp, luôn luôn lặp đi lặp lại câu vọng cổ ăn tiền tips này(?)  Nói gì tới chuyện ranh ngôn nhớ đời đó.
 
Theo tôi hiểu thì địa ngục hoặc thiên đường chỉ là 2 diện mục của bản lai. Tất cả cũng từ tâm phân biệt nhị nguyên, dualism, có thiện thì sẽ có ác, có tốt thì phải có xấu và ngược lại. Không có thiên đường (heaven) lẫn địa ngục (hell) trong đạo Giác Ngộ. Cứu cánh Niết bàn không phải là thiên đàng và ngay cả mong đạt tới Niết bàn cũng là điên đảo mộng tưởng.  

Cho nên, cái chìa khoá kiến thức (knowledge) của khoa học đó nó không có mấy quan trọng, trí tuệ cũng không có nhiều giá trị cần thiết đối với đạo Phật vì đường vào Niết bàn giải thoát đó không cần chìa khóa mở ‘cổng không cửa’ (vô môn quan). Thêm nữa, đường tới bến giác ngộ không có cổng, nói chi tới chuyện có cửa để mở? Cho nên, cái chìa khóa vạn năng đó không có chút giá trị cần thiết lẫn quan trọng trí thức nào đối với đạo Trí Tuệ.  Thực tại, giác ngộ không bờ không bến.

Thiên đường, địa ngục, đạo đức, luân lý, thiện ác, xấu tốt, đúng sai là luật của con người.  Nhân sinh qua kiến thức và kinh nghiệm lịch sử lặp nên để duy trì trật tự xã hội của nhân loại chứ không phải là luật tự nhiên (như thị) tuần tự nhi tiến, của vũ trụ. Vũ trụ không cần biết và không cần thiết những thứ nhân tạo vô nghĩa lý này. Khoa học nhân văn cũng không ngoại lệ trong luật vũ trụ như thị đó.

Quán tự tại chiếu kiến vật lý giai không

Trí tuệ của thiên nhiên thật là phong phú, vĩ đại hơn cả tâm tưởng của con người.
 
“The imagination of nature is far, far greater than the imagination of man”.

Chúng ta không cần bảo mẹ phải làm gì cho ta ... Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình... dạt dào. ‘Tâm Mẹ’ luôn luôn chăm lo, bảo bọc và hướng dẫn ta.

“We are not to tell nature what she’s gotta be. … She's always got better imagination than we have”. 

Sir Douglas Robb Lectures, University of Auckland (1979); lecture 1, "Photons: Corpuscles of Light"

Thật vậy, tâm tưởng thậm cao thâm hơn tư tưởng.

Tôi thường nhiều lần tư duy về những điều này và tôi hy vọng bạn sẽ thông cảm nếu tôi gợi lại cho bạn những ý tưởng mà tôi chắc chắn tất cả các bạn đã từng trải qua – hoặc có lối suy nghĩ này – mà chưa ai đã có thể có được trong quá khứ bởi vì con người thời đó chưa có những tin tức như chúng ta có về thế giới ngày naỵ

“I have thought about these things so many times alone that I hope you will excuse me if I remind you of some thoughts that I am sure you have all had -- or this type of thought -- which no one could ever have had in the past, because people then didn't have the information we have about the world today. 
 
Chẳng hạn, tôi đứng tại bờ biển này, đơn độc, và bắt đầu suy nghĩ. Đây những đợt sóng đùa... hằng hà núi của vô số phân tử, mỗi phần ngu muội chú ý việc riêng tư của nó... tỷ tỷ cá thể... đang hợp thành đỉnh sóng bạc đầu (whitecaps) trong đồng điệu.

“For instance, I stand at the seashore, alone, and start to think. There are the rushing waves ... mountains of molecules, each stupidly minding its own business ... trillions apart ... yet forming white surf in unison”.
 
Kiếp chồng kiếp... trước bất cứ những nhãn thức có thể tri kiến... năm từng năm... thịnh nộ như sấm đang đánh xuống bãi biển như bây giờ. Cho ai, cho cái gì?... Như trên một hành tinh chết, không sự sống để thụ hưởng.

“Ages on ages ... before any eyes could see ... year after year ... thunderously pounding the shore as now. For whom, for what? ... on a dead planet, with no life to entertain”.

Chưa bao giờ yên nghỉ... đau khổ bởi nguyên khí... quá phung phí bởi thái dương... đã đổ vào chân không. Một côn trùng làm cả đại dương gầm thét. (Lời ca nào đó, điệu nhạc nào đó bởi một côn trùng làm chấn động và lôi kéo theo tiếng gào thét khổ đau của biển).

“Never at rest... tortured by energy... wasted prodigiously by the sun... poured into space. A mite makes the sea roar”.

Sâu thẳm trong đại dương, tất cả những phân tử tiếp tục ‘rập khuôn’ liên tiếp với nhau tới khi những phức tạp đó tạo thành tân vật chất. Chúng cấu tạo những cái khác giống như chính chúng nó... và như thế, một vũ khúc mới bắt đầu.

Phật giáo hóa: Trong biển khổ sâu thẳm của sắc thân, tất cả những chúng sinh nhỏ bé tiếp tục ngụp lặng trong vòng luân hồi đầy phức tạp của sinh tử, tử sinh...  Những chúng sinh sinh ra những chúng sinh khác, giống như chính chúng sinh trước ... và một điệu vũ mới bắt đầu như say như cuồng (sân si) trong nhục thể này.

“Deep in the sea, all molecules repeat the patterns of one another till complex new ones are formed. They make others like themselves... and a new dance starts”. 

Tăng trưởng trong kích thước và rắc rối... những sự sống, hằng hà nguyên tử, tính di truyền (DNA,) sinh tố, (vi khuẩn, hóa học, tế bào, và vạn vật,...)... tiếp tục nhảy một điệu vũ phức tạp bất hủ.

“Growing in size and complexity... living things, masses of atoms, DNA, protein... dancing a pattern ever more intricate”.

Sinh ra từ trong nôi trên trái đất này... sở trụ đứng đây... những nguyên tử với tâm thức... sắc tướng với tính tò mò (của chúng sinh nguyên tử với tâm viên ý mã.)

“Out of the cradle onto the dry land... here it is standing… atoms with consciousness... matter with curiosity”. 

(Nó) đứng tại bờ biển này... (Ai) phân vân và tự nhủ... Tôi (Ngã, self)... một vũ trụ của vô lượng nguyên tử (đại ngã độc tôn)... một nguyên tử trong vũ trụ (một lân hư trần, tiểu vô ngã).

“Stands at the sea... wonders at wondering... I... a universe of atoms... an atom in the universe”. (The Value of Science, Richard Feynman, Fall 1955)

Cánh hành văn và chơi chữ, từ ngôi thứ ba (Third Person Singular) tới nhân cách hóa ra ngôi thứ nhất (First Person Singular) mà Feynman cố tình thuyết pháp trong bài thơ diễn văn tuyệt diệu trên đây chỉ có những bậc Bồ tát với kiến thức bác học lẫn trí tuệ siêu phàm mới ngộ được ẩn ý cao siêu của ông ta.

Tâm sinh, tâm diệt

Đọc tới đây, hy vọng đa số chúng ta đã kiến giác được ra tâm ý của Feynman khi ông ta nói:“Điều này nó có nghĩa là gì khi ta khám phá ra chừng bao lâu để những kiếp nguyên tử của tâm não được thay thế bởi những kiếp nguyên tử khác, điều nên ghi nhận rằng cái hình sắc mà tôi gọi là cái tôi ích kỷ đó chỉ là đơn thuần hoặc độc điệu. Dòng tâm thức luôn luôn đổi mới, say cuồng cùng một điệu vũ luân hồi, rồi đi ra - luôn luôn sinh ra những tân nguyên tử, nhưng chúng luôn luôn quay cuồng múa cùng vũ điệu, mà cái luân vũ điệu khúc của hôm qua đó chỉ còn lại trong ký ức” lẫn tâm giác ngộ của Richard Feynman khi ông ta đề cập tới kiếp chúng sinh, vô ngã, duyên nghiệp, nhân quả, vô thường, và vòng luân hồi sinh tử. 

“This is what it means when one discovers how long it takes for the atoms of the brain to be replaced by other atoms, to note that the thing which I call my individuality is only a pattern or dance. The atoms come into my brain, dance a dance, and then go out – there are always new atoms, but always doing the same dance, remembering what the dance was yesterday”. 

The great physicist, Nobel Prize, Richard Feynman (of QED, Los Alamos, space shuttle, strip clubs and bongo drum fame). 

Không biết Feynman đã có nghe qua Bát Nhã Tâm Kinh lần nào chưa nhưng câu cuối cùng “quán tự tại chiếu kiến ngũ uẩn giai không” trên đây của ‘thiện trí thức’ Mỹ Richard Feynman đã chứng tỏ đạo Phật thâm diệu vô bờ vô bến không nhị nguyên (bất nhị, nondualism,) không phân biệt Đông Tây, phật tử hay không phật tử.  Phật giáo đã chứng minh tất cả chúng sinh (sentient beings) tuy căn trí bất đồng nhưng cũng có thể giác ngộ vì chúng sinh đồng nhất thể và đều có cùng Phật tánh.

Tôi mạo muội Bát Nhã hóa đoạn thơ cuối mà Bồ tát khoa học gia Feynman giác ngộ ở trên: 

“I... a universe of atoms... an atom in the universe”. (The Value of Science, Richard Feynman)

Ngã.... chân không của sắc... và sắc trong hư không. Hay, Ngã... không là sắc; sắc là không... vô ngã.
 
Hay khó hiểu hơn: Sắc từ Tâm... Sắc trong Tâm.

Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, đức Phật dạy về sinh trụ hoại diệt của đại vũ trụ trong tiểu vũ trụ: "Bên trong thân xác bằng một sải tay mang đầy giác cảm này, Như Lai xem đấy cũng chẳng khác gì như toàn thế giới (vũ trụ, THL) sự hình thành của thế giới (vũ trụ) và cả con đường đưa đến sự chấm dứt của thế giới (vũ trụ)".  

Tôi thưởng thức từng chữ, từng câu, từng đoạn đầy viên diệu của bài thơ trên và đặc biệt là câu ‘kệ’: “A mite makes the sea roar”. 

Nếu cá nhân nào quán tâm ý được câu ‘kệ’ ‘mite effect’ trên thì chúng sinh đó có thể đã ở trong đại định, quán âm tiếng vỗ tay sấm sét của độc thủ đại hiệp?
 
Khi tôi nói về việc thiên nhiên, bạn sẽ không hiểu tại sao thiên nhiên như làm vậy.  Nhưng bạn cũng thấy đó, không ai hiểu nổi nó. “Thiên cơ bất khả lậu”.  Có mấy ai hiểu được số trời?  

“While I am describing to you how Nature works, you won't understand why Nature works that way. But you see, nobody understands that”. Richard Feynman

Ngoài là giáo sư, vật lý gia, và Nobel Laureate, Dr. Richard Feynman cũng là một học giả uyên thâm về triết lý Phật giáo dù rằng ông ta chưa bao giờ quy y Phật.  

Điều này chứng tỏ, tái Giác Ngộ trở lại thành Phật không phân biệt một ai.  Chúng sinh điều có cùng Phật tánh nhưng căn trí bất đồng.

Tuy nhiên, những kiếp chúng sinh, duy ngã, vô thường tự tái tạo rồi tiếp tục múa nhảy theo luân vũ ‘sắc không, không sắc’ rập khuôn thời gian.  Sớm muộn gì thì những chúng sinh nguyên tử này cũng theo dòng thời gian, qua đi cùng với những duyên nghiệp của chúng và vũ khúc luân hồi bất khả thuyết này rồi thì cũng chỉ là dư âm trong ký ức.  

Liệu chúng ta có bao giờ quán tự tại để cảm thấy những nguyên tử chúng sinh với tâm thức luân hồi tái tạo ra cái duy ngã mà ta tự xưng là ‘Tôi’ đó là những cái gì, chúng sinh đó từ đâu đến mà không chào hỏi, đang bơi lội nhởn nhơ và làm trò múa rối vô duyên trong tấm thân ngũ uẩn này rồi thì lại ra đi không một lời từ giã lẫn không hẹn lúc nào trở lại?

Ta tạo thành những nguyên tử chúng sinh này hay những nguyên tử chúng sinh đó tạo ra ta?  Ta là chúng nó sinh ra hay chúng nó là chúng ta sinh thành?  Chúng nhân sinh là ai và ai là chúng nhân loại?  “Ái gia” là ai? Ai là “Ái gia”? Ta đang tự hỏi hay chúng nó tự hỏi – Hạt bụi nào hóa kiếp thân ‘Tôi’ để một mai vương hình hài đứng dậy... Hạt bụi nào hóa kiếp thân ‘Tôi’ để một mai tôi trở về cát bụi? Như Trịnh Công Sơn đã suy tư trong bản nhạc “Cát Bụi” của ông ta.

Ta là Cát ta sẽ về với Bụi.
Trả trần gian những cay đắng muộn phiền.
Hồn ta sẽ về nơi cao xanh ấy.
Không còn buồn lo lắng chốn trần ai!
(Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật, Bùi Giáng)

Các nhà thông thái xác định bản chất của nguyên tử qua việc phân tách trọng khối của vật thể.  

Nhà bác học vật lý nổi tiếng Albert Einstein (1879-1955) nói: “Vũ trụ phân tích đến cùng chẳng còn gì là vật chất mà chỉ còn lại là những rung động hay những làn sóng (wave) mà thôi”.

Thấy được một chủng nguyên tử trong cơ thể của mình, trong vũ trụ giúp chúng ta ngộ rằng: 

1. Gia hạnh (sa. prayoga): Hành giả (Bồ tát) nhận ra rằng không có gì ngoài Tâm; 
2. Kiến (sa. darśana): Hành giả dựa trên giáo pháp đích thật, đạt Như thật tri kiến, bước vào Thập địa (sa. daśabhūmi). Hành giả thống nhất khách quan chủ quan là một. Trong giai đoạn này, hành giả loại trừ Phiền não (sa. kleśa). 
3. Tu tập (sa. bhāvanā): Hành giả tu tập và vượt qua Bồ tát thập địa; 
4. Vô học, cấp thành tựu Thánh quả: Hành giả diệt tận phiền não, chấm dứt Luân hồi. Bồ tát đã chứng đạt Pháp thân (sa. dharmakāya).  

Theo quan niệm cổ của Đông phương thì nguyên tử (Paranamu) được hiểu như không có thực thể (Nissarira). Khoa học hiện đại đã chiếu kiến được lượng tử khi hạt (sắc) khi sóng (không,) khi có khi không tùy tâm ý cũng như Bồ tát chiếu kiến sắc không, ngũ uẫn giai không và thiên hình vạn trạng do tâm tạo.

Ngài Vô Trước không biết đến khoa vật lý hữu cơ hiện nay, Ngài chỉ nói về siêu hình và triết học. Ðiều quan tâm của Ngài là thế giới mà mọi người cho là vật chất thực ra không có thật thể mà chỉ là một khái niệm. Hiện nay, có giả thuyết, thế giới chỉ là ‘ảnh đồ ký 3 chiều’ (holographic universe, vũ trụ kỳ ảo).

Vậy thì, hình như ‘khái niệm’ tạo ra vật chất? Mà nếu cái khái niệm vật chất đó chỉ là ảo thì ngay cả cái ảo khái niệm đó cũng có thể không thật sự... là ảo, mà thật ra chỉ là khái niệm ngoài khái niệm và khái niệm trong khái niệm? Những khái niệm đó triệt tiêu thành Vô Khái Niệm?

Đâm ra, rằng thì là,” tôi cũng không hiểu nổi tôi đang vô khái niệm cái khái niệm nào?

Có thể, tôi trí tuệ hơn tôi nên tôi chưa đủ thông minh để tôi hiểu nổi tôi?

Mea culpa!

(Lỗi tại Ngộ?)

Tôi nhị nguyên hay tôi bất nhị?  

Định đề I: Tôi với tôi tuy hai mà một, không hai.  Tôi với tôi tuy một mà hai, không một. 
 
Nhưng, hình như:

Tôi với tôi tưởng như hai mà là ba và cũng là bốn.

Tôi + tôi = 2 tôi; nhị nguyên, (a)

Tôi + tôi = 1 tôi; bất nhị, không là 2, cứ cho nó là một đi (b)

Hai phương trình (a) và (b) trên, nếu cộng 2 vế lại với nhau:

Tôi + tôi + Tôi + tôi = 2 tôi +1 tôi

4 tôi = 3 tôi

4 = 3

Nếu bất nhị không phải là hằng số (constant number) = 1 

Và nếu bất nhị = 0, 1, 2, ... ∞

Thì, 4 tôi ở trên, cái tứ thân này có thể là nhị nguyên hay là bất cứ ai ngoại trừ bất nhị?

Tôi là chúng ngã hay tôi là vô chúng ngã?

Tương tự như lý luận ở trên:

Định đề II: Tôi và tôi hình như hai mà lại là một. Tôi và tôi tưởng một mà... lại là không hai.
 
Nhưng: 

Tôi và tôi tưởng thành hai mà là một.

(Tôi) x (tôi) = 1 tôi, (c)

"Chỉ còn lại một mình, tôi với tôi!”


Rồi thì, Tôi vẫn là tôi.

Và nếu bất nhị không phải là hằng số (constant number) = 1 

Và nếu bất nhị = 0, căn cứ vào phương trình (c) ở trên, thì, kết quả là không có tôi, vô ngã (ngộ mậu?)

Nhưng nếu, bất nhị = 1, 2, ... ∞ thì, tôi là độc tôn và là 7 tỷ nhân sinh.

Và nếu, bất nhị = -1, -2, ... - ∞

(Tôi) x (tôi) = 1 tôi, (c)

(-1) x (-1) = +1 tôi

(-∞) x (-∞) = +∞ tôi

Thì, tôi cũng vẫn luôn là tôi và là tất cả ai trong vũ trụ.

Tôi vẫn là một chúng sinh nguyên tử và cũng vẫn là tất cả chúng sinh nguyên tử.

Những toán pháp trên không có đúng sai mà chỉ là khái niệm.

Còn nữa...

Lê Huy Trứ

Truy cập phiên bản mobile tại địa chỉ: http://m.phatgiao.org.vn/

Ý kiến phản hồi

Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu


 Refresh

Giá trị của Khoa học & Quan trọng của Phật giáo (P.1)

Hai năm về trước, ngẫu nhiên đọc được bài diễn văn ‘Giá trị của Khoa học’ (The Value of Science) bởi Dr. Richard Feynman, mùa thu, 1955, (in Volume XIX, ENGINEERING AND SCIENCE, December 1955) rất nổi danh ở trên internet nhưng lúc đó tôi chưa đủ trình độ để hiểu nổi cái trí tuệ thậm thâm viên diệu của ông ta dù lúc đó tôi cảm thấy rất hấp dẫn.
Giá trị của Khoa học & Quan trọng của Phật giáo (P.1) Giá trị của Khoa học & Quan trọng của Phật giáo (P.1)
810 700
Hai năm về trước, ngẫu nhiên đọc được bài diễn văn ‘Giá trị của Khoa học’ (The Value of Science) bởi Dr. Richard Feynman, mùa thu, 1955, (in Volume XIX, ENGINEERING AND SCIENCE, December 1955) rất nổi danh ở trên internet nhưng lúc đó tôi chưa đủ trình độ để hiểu nổi cái trí tuệ thậm thâm viên diệu của ông ta dù lúc đó tôi cảm thấy rất hấp dẫn.