GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Ban Thông tin Truyền thông
Tìm theo tin bài Tìm theo tác giả
Cập nhật lúc 06:48 21/12/2016 (GMT+7)

Tiểu sử cố Hòa thượng Thích Hành Sơn (1908 - 1989)

(PGVN)

Hòa thượng có thế danh là Lê Đình Nam, sinh năm Mậu Thân (1908), người làng Đại An, xã Kỳ Long (nay là xã Tam Thái, huyện Phú Ninh), phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình trung nông có truyền thống Nho học.

 
Tuổi trẻ của Hòa thượng gắn liền với phong trào kháng chiến giành độc lập dân tộc. Đầu thập niên 1940, người thanh niên Lê Đình Nam mới có nhân duyên đến với Phật pháp và đã sớm có ý thức Phật hóa gia đình, kêu gọi anh em trong gia đình cùng với một số phật tử phát tâm sáng lập chùa Đại An tại huyện Phú Ninh (1944).

Sau khi quy y với HT.Thích Trí Giác tại Tổ đình Phước Lâm (Tp.Hội An) và được bổn sư ban cho pháp danh là Thị Hải, năm Canh Tý (1960), Hòa thượng đã phát tâm xuất gia với HT.Thích Như Bình (tức HT.Thích Giải An) tại chùa Thọ Sơn (tỉnh Quảng Ngãi), được ban pháp tự là Hành Sơn, và cho thọ giới Sa di. Hai năm sau, Hòa thượng được thọ Cụ túc giới tại Đại Giới đàn do Giáo hội Tăng già Nam Việt tổ chức tại chùa Ấn Quang. Hòa thượng được lưu lại Sài Gòn ở chùa Giác Nguyên – Vĩnh Hội trong hai mùa An cư kiết hạ.
 
Sau đó Hòa thượng được cung thỉnh về làm trụ trì chùa Viên Minh (làng Trung Lộc, xã Sơn Phúc, nay là huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam). Từ đây Hòa thượng đã nỗ lực tu tập, tiếp Tăng, độ chúng và hoằng dương Phật pháp rộng ra các vùng lân cận như Trung Phước, Đại Bình, Khương Quế, Nông Sơn, Sơn Ninh, Sơn Thuận; Hòa thượng đã thế độ cho hàng chục vị đệ tử xuất gia như Đồng Hòa, Đồng Nghĩa, Đồng Hảo, Thị Nguyên, Như Hoàng, chư Ni như Diệu Hương, Diệu Quả…

Năm 1966, Hòa thượng thành lập ngôi chùa An Lạc (tại phường Thanh Hà, Tp.Hội An, tỉnh Quảng Nam), tại đây Hòa thượng cũng đã thế độ cho một số người xuất gia trong đó có Đồng Huy (tức HT.ThíchThiện Toàn – Nguyên Hoàng), Đồng Thiện, Đồng Tiến, Đồng Ngộ, Đồng Lực…

Năm 1968, cuộc chiến tranh đến thời kỳ ác liệt cao điểm, nạn nhân bị bom đạn mỗi ngày một tăng, Hòa thượng thành lập cô nhi viện An Hòa thuộc quận Đức Dục (nay là xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) và khai sơn các chùa Nông Sơn, Đa Bảo, Minh Giác. Cũng trong thời gian này, Ngài được cử làm trụ trì chùa An Hòa và đảm nhận chức vụ Chánh Đại diện Phật giáo quận Đức Dục. Năm 1966, Ngài thế độ xuất gia cho các vị cầu pháp như: TT.Đồng Nguyện (đang trụ trì chùa An Lạc), Đồng Tịnh, Đồng Lý, Đồng Thân…
Chùa An Lạc (phường Thanh Hà, Tp.Hội An, tỉnh Quảng Nam)
Hòa thượng đảm nhiệm Tổng vụ Từ thiện xã hội GHPGVNTN tại Trung Phần và quyết định dời cô nhi viện An Hòa về khu vực quận 3 (cũ), An Hải Đông, Tp.Đà Nẵng. Năm 1972, Hòa thượng được thỉnh cử làm trụ trì chùa Pháp Hội và trùng kiến lại toàn bộ ngôi chùa này.
Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, Hòa thượng về quê hương vùng đất Quế Lộc (Quế Sơn, Quảng Nam) xây dựng lại ngôi chùa Viên Minh, chùa Đại An để có nơi cho người dân cùng phật tử lánh nạn trở về có nơi tu tập.

Dù hành đạo trong hoàn cảnh đặc biệt nhưng HT.Thích Hành Sơn vẫn luôn nỗ lực hoằng hóa độ sinh. Trong vòng 30 năm, Hòa thượng đã trùng kiến và xây dựng 5 ngôi chùa, cùng với cô nhi viện An Hòa.

Đầu năm Kỷ Tỵ (1989), xét thấy mình tuổi cao, sức khỏe yếu dần, Hòa thượng đã về đảnh lễ Tổ, đi thăm viếng các ân nhân, thăm hỏi đệ tử sau đó an nhiên thị tịch vào ngày 22-11 Âm lịch. Trụ thế 83 năm với 28 năm Hạ lạp.

Bảo tháp của Ngài được môn đồ tứ chúng tôn trí tại khuông viên chùa Long Tuyền, phường Thanh Hà, Tp.Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Ban TTTT PG tỉnh Quảng Nam

Truy cập phiên bản mobile tại địa chỉ: http://m.phatgiao.org.vn/

Ý kiến phản hồi

Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu


 Refresh

Tiểu sử cố Hòa thượng Thích Hành Sơn (1908 - 1989)

Hòa thượng có thế danh là Lê Đình Nam, sinh năm Mậu Thân (1908), người làng Đại An, xã Kỳ Long (nay là xã Tam Thái, huyện Phú Ninh), phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình trung nông có truyền thống Nho học.

Tiểu sử cố Hòa thượng Thích Hành Sơn (1908 - 1989) Tiểu sử cố Hòa thượng Thích Hành Sơn (1908 - 1989)
710 700
Hòa thượng có thế danh là Lê Đình Nam, sinh năm Mậu Thân (1908), người làng Đại An, xã Kỳ Long (nay là xã Tam Thái, huyện Phú Ninh), phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình trung nông có truyền thống Nho học.